|
|
Một nghịch lý trong hoạt động ngân hàng ở nước ta từ đầu năm 2006 đến nay là, mặc dù vốn khả dụng có tính chất dư thừa nhưng lãi suất huy động vẫn cứ tăng lên, đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận.
Một số người lo lắng cho rằng ngân hàng thương mại sẽ bị thua lỗ hoặc giảm lợi nhuận. Vậy thực chất của vấn đề này như thế nào? Về nguyên lý cũng như thực tiễn trong kinh doanh tiền tệ, tăng lãi suất là một biện pháp quan trọng để tăng cường huy động vốn. Tức là vốn có xu hướng thiếu, hay nhu cầu vốn tăng cao thì ngân hàng thương mại mới cần tăng lãi suất để đẩy mạnh huy động vốn. Trong khi đó, vốn khả dụng có tính chất dư thừa, chứng tỏ xu hướng ngân hàng thương mại thừa vốn thì lại tăng lãi suất. Vậy tại sao lại có mâu thuẫn đó? Tương quan giữa vốn khả dụng và lợi nhuận Trong những năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước đưa nghiệp vụ thị trường mở vào hoạt động, thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc Nhà nước hoạt động có hiệu quả và có quy mô lớn hơn thì nhiều ngân hàng thương mại có xu hướng dành một số vốn khả dụng nhất định đầu tư vào giấy tờ có giá, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận. Như vậy, có thể khẳng định, ngân hàng thương mại không dại gì để tăng tỷ lệ vốn khả dụng hay để vốn khả dụng có tính chất dư thừa, để giảm hiệu quả kinh doanh hoặc thua lỗ. Một trong những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh là ngân hàng thương mại phải tối đa hóa tỷ lệ vốn khả dụng. Vậy tại sao có tình trạng nói trên? Một là vốn khả dụng có tính chất dư thừa, hay nói chính xác là tỷ lệ vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng lên là do cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại thay đổi. Tỷ lệ tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn ngắn của khách hàng tại ngân hàng thương mại tăng lên, họ có thể rút ra bất cứ lúc nào. Do đó, để tăng khả năng đảm bảo thanh toán cho khách hàng, ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ vốn khả dụng. Cơ cấu nguồn vốn nói trên có xu hướng tăng là do các ngân hàng thương mại phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích, nhất là dịch vụ chi trả lương qua hệ thống máy rút tiền tự động ATM. Tiếp đó là số tiền gửi thanh toán của các đơn vị kinh doanh lớn có tính chất đặc thù, như bảo hiểm, quỹ đầu tư, doanh nghiệp, Kho bạc Nhà nước. Những đơn vị và tổ chức đó có số dư tiền gửi lên tới hàng trăm tỷ đồng, thậm chí là hàng nghìn tỷ đồng. Khi họ có nhu cầu thì thường rút ra những khoản tiền lớn. Do đó, ngân hàng thương mại phải tăng tỷ lệ vốn khả dụng. Tuy nhiên, đây là loại tiền gửi có lãi suất thấp, bình quân chỉ khoảng 0,20% - 0,25%/tháng đối với Đồng Việt Nam, thấp hơn nhiều so với mức bình quân 0,68% - 0,72%/tháng của loại tiền gửi kỳ hạn 1 năm. Do có lãi suất thấp, nên cho dù phải tăng tỷ lệ vốn khả dụng thì cũng không ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại, thậm chí là còn làm tăng lợi nhuận vì tổng khối lượng lãi suất phải trả cho khách hàng rất thấp. Mạng lưới ngân hàng phát triển, số lượng chi nhánh tăng nhanh. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần trong hơn một năm qua có số lượng chi nhánh tăng thêm từ 50% - 60% so với trước. Theo quy định, chi nhánh được phép tồn quỹ tiền mặt. Do đó, số vốn khả dụng nằm ở chi nhánh, khối lượng tiền mặt tồn quỹ tại chi nhánh phát sinh, làm cho tổng vốn khả dụng cũng như tỷ lệ vốn khả dụng của ngân hàng thương mại tăng lên. Qua một số vụ việc nhậy cảm, khách hàng kéo đến rút tiền gửi trước hạn thời gian qua tại một số ngân hàng, nên các ngân hàng thương mại có xu hướng tăng tỷ lệ vốn khả dụng hơn trước. Về việc tăng lãi suất, có thể khẳng định là tập trung chủ yếu ở tiền gửi ngoại tệ và tiền gửi trên 12 tháng đối với nội tệ. Lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng là do lãi suất trên thị trường quốc tế tăng lên. Lãi suất huy động vốn Đồng Việt Nam tăng chủ yếu ở kỳ hạn trên 12 tháng, với mức tăng 0,24% - 0,36%/năm, chủ yếu để cơ cấu lại nguồn vốn, tăng tỷ trọng vốn trung dài hạn và mức tăng nói trên không lớn. Mức lãi suất hiện nay vẫn còn thấp hơn lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại đưa ra cuối thập niên 90. Dư nợ cho vay trung dài hạn có điều kiện tăng lên, mà lãi suất cho vay trung dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tiền gửi trung dài hạn cũng thấp hơn tiền gửi ngắn hạn. Bởi vậy ít ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Cuộc chạy đua tăng lãi suất Ngân hàng thương mại cổ phần tăng lãi suất để đẩy mạnh huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dư nợ cho vay, tăng trưởng quy mô đầu tư, tăng trưởng quy mô kinh doanh trong chiến lược phát triển của ngân hàng. Quy mô nguồn vốn huy động tăng cao, dư nợ cho vay và đầu tư cũng tăng cao, hoạt động kinh doanh an toàn và chặt chẽ hơn, chi phí tiết kiệm hơn... nên quy mô lợi nhuận của ngân hàng thương mại cũng tăng lên. Các ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ, ngân hàng thương mại cổ phần mới chuyển đổi từ nông thôn lên thành ngân hàng thương mại cổ phần đô thị tăng lãi suất nhằm tăng cường huy động vốn bởi danh tiếng của ngân hàng còn ít người biết đến, uy tín chưa có, màng lưới chưa phát triển. Vì vậy để nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác để thu hút vốn, các ngân hàng thương mại cổ phần loại này không đường nào khác ngoài biện pháp truyền thống là tăng lãi suất tiền gửi. Đây là nhóm ngân hàng thương mại có mức tăng lãi suất lớn nhất từ đầu năm nay. Trong cạnh tranh, một số ngân hàng thương mại khác cũng phải tăng lãi suất nếu không vốn sẽ chạy sang ngân hàng thương mại khác. Vốn huy động cho vay chậm, các ngân hàng thương mại đó đem cho vay trên thị trường liên ngân hàng, vẫn đảm bảo có lãi. Chỉ số tăng giá vẫn ở mức khá, tới 4,8% trong 8 tháng đầu năm 2006. Giá vàng, giá dầu thô và giá bán lẻ xăng dầu trong nước, USD có nhiều thời điểm biến động,tác động vào tâm lý người gửi tiền. Do đó lãi suất huy động vốn chịu ép tăng lên. Như vậy, có thể khẳng định, xu hướng vốn khả dụng có tính chất “dư thừa”, hay tỷ lệ vốn khả dụng có xu hướng tăng lên là một tất yếu khách quan. Lãi suất huy động vốn tăng lên là sự điều chỉnh linh hoạt, năng động của các ngân hàng thương mại theo sát diễn biến của thị trường. Tình hình đó không làm cho ngân hàng thương mại bị thua lỗ, mà tổng quy mô lợi nhuận của ngân hàng thương mại vẫn cao.
Admin (Theo www.vneconomy.com.vn) |